Thứ Sáu, 10 tháng 2, 2017

Giáo dục Nhật Bản:“Giáo dục đạo đức” là cốt lõi


Ngành Giáo dục Nhật Bản có vị thế tốp đầu thế giới như hiện nay vốn được xây dựng trên triết lý “con người = đạo đức”, đề cao tuyệt đối tính kỷ luật và tinh thần tự lập.

Nhiều chuyên gia giáo dục nhận định giáo dục Nhật Bản thời kỳ cận-hiện đại được bắt đầu từ thời Minh Trị (1868-1912). Tuy nhiên, các văn bản pháp luật, các quy định giáo dục thời Minh Trị chưa nhắc đến “triết lý giáo dục”. Mãi sau Thế chiến thứ II, các nhà nghiên cứu giáo dục người Nhật cho rằng giáo dục Nhật Bản ngay từ trước 1945 vận hành theo triết lý “mỗi người học sẽ trở thành một cá nhân hoàn thiện đạo đức” - được thể hiện trong Sắc chỉ giáo dục (hay còn được biết đến là “thánh chỉ” của Thiên hoàng Minh Trị ban bố vào năm 1879). Triết lý “đạo đức” trong thánh chỉ của Minh Trị chứa thông điệp giáo dục đạo đức mang màu sắc Nho giáo - hết lòng vì vua, trung quân mới là ái quốc.

Từ “thầy công bằng” đến “trò cống hiến”

Thời Minh Trị, từ triết lý “đạo đức”, không phân biệt hoàn cảnh, sắc tộc, tôn giáo, giai tầng của bất cứ thanh niên nào, hễ có tiềm năng và phát huy được tố chất, mong mỏi và khát vọng phát triển quốc gia, chính phủ Nhật liền đưa sang các nước phương Tây để tiếp thu các giá trị khoa học kỹ thuật, công nghệ mới rồi quay về phục vụ “vua”. Triết lý “đào tạo người phục vụ cho đất nước” dựa trên nguyên tắc công bằng nhanh chóng mang về hiệu quả khi nhân tài từ phương Tây trở về phục vụ Nhật Bản.

Giáo dục Nhật nhờ đó mà học hỏi tinh túy từ hệ thống giáo dục nước ngoài: Hệ thống hành chính giáo dục chặt chẽ và trật tự của Pháp; hệ thống đại học “người dẫn đầu”, tập trung phát triển giáo dục đại học theo mô hình các trường đại học ưu tú của Đức; mô hình trường học công lập dựa trên đạo đức và sự công bằng cho mọi người từ Anh; cùng với phương châm “Trường học phải đảm bảo sự phát triển cho tất cả trẻ em” đến từ John Dewey, một nhà triết học và nhà cải cách giáo dục Mỹ. Nhờ việc dạy cho trẻ triết lý “ái quốc”, một lực lượng đông đảo trí thức Nhật tiếp thu Tây học nhanh chóng quay về, đưa Nhật Bản theo kịp quá trình hiện đại hóa quốc gia với nhiều nước phương Tây.

Bài 2: Nhật Bản:“Giáo dục đạo đức” là cốt lõi

Hiện nay các lớp học ở Nhật không tổ chức theo kiểu “gom học sinh có điểm số cao lại với nhau”. Nhà trường cũng không chủ trương “khoe” kết quả học tập của các em đến mọi người, vì cho rằng điểm số không phản ánh được khả năng thực sự của trẻ, mọi học sinh đều có cơ hội học tập trong môi trường bình đẳng.

Cho đến vài năm gần đây Nhật Bản mới chủ trương thí điểm kỳ thi cho các em lớp 6 và lớp 9 nhằm giám sát hiệu suất của hệ thống giáo dục chứ không phải đánh giá năng lực học sinh. Kỳ thi chính thức duy nhất chỉ được tổ chức để các em học sinh vào học trường trung học và đại học.

Gánh nặng thi cử được chia sẻ lên vai của thầy cô, cha mẹ, bạn bè cùng lớp của các em học sinh. Thầy cô dạy cho trẻ nghĩa vụ giúp bạn vượt khó vì đó là giá trị “đạo đức” - yếu tố truyền thống của người Nhật, đồng thời cũng là cơ hội để cả học sinh yếu tiến bộ, còn học sinh giỏi trải nghiệm và rút kinh nghiệm được nhiều điều từ người bạn của mình.

Trách nhiệm của thầy cô với trẻ rất cao, được thể hiện thông qua môi trường học tập thầy cô xây dựng cho trẻ trải nghiệm; mối quan hệ tương trợ của thầy cô với trẻ em ngoài giờ học; sự kết hợp giữa thầy cô với phụ huynh để giúp trẻ vượt khó khăn và phát triển toàn diện. Năng lực của giáo viên được đánh giá thông qua những thành quả hiện hữu, những sáng kiến đột phá, mức độ đóng góp vì cộng đồng… của các em học sinh mà họ giảng dạy (chứ không phải điểm số).

Bên cạnh đó, hiệu trưởng và giáo viên của các trường học được phân bố theo các quận và luân chuyển thường xuyên để đảm bảo rằng không có bất kỳ sự độc tài nào tồn tại. Chưa kể việc phân bổ tài chính, y tế, khuyến học… từ chính phủ cũng rất công bằng, nhằm hình thành tư duy công bằng trong suy nghĩ trẻ. Từ triết lý “đạo đức”, môi trường giáo dục công bằng qua nhiều thế hệ tạo ra một nước Nhật rất minh bạch, với tỉ lệ tiêu cực và tham nhũng rất thấp. Theo số liệu mới nhất, Nhật Bản đứng thứ 17/178 nước trên thế giới về minh bạch.

Ý thức “tuân thủ kỷ luật” tuyệt đối

Chuyên gia giáo dục Bassey Ubong (Nigeria) trong bài viết “Triết lý giáo dục và những ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển của quốc gia” đã dẫn lời nhà nghiên cứu giáo dục F. N. Kerlinger (1951) nhận định giáo dục Nhật Bản sau thời Minh Trị, rõ nhất là từ giữa thế kỷ 20 cho đến tận nay, vẫn vận hành theo triết lý “shữshin”. Hiểu nôm na, “shữshin” được gói gọn trong từ “đạo đức” - trung tâm của giáo dục kiến thức, đời sống, sinh hoạt, kỹ năng làm việc của người Nhật.

Nhà giáo Nguyễn Quốc Vương, ĐH Sư phạm Hà Nội, trong bản dịch Luật giáo dục cơ bản (được Quốc hội Nhật Bản ban hành lần đầu năm 1947 và sửa đổi năm 2006) đã chỉ ra triết lý “đạo đức làm nền tảng trong giáo dục” của người Nhật được mô tả: “Cần phải nhắm tới thực hiện xã hội ở đó từng quốc dân có thể mài giũa nhân cách bản thân...”. Tuy nhiên, triết lý giáo dục “đạo đức” không còn là đào tạo người trung quân ái quốc.

Chuyên gia giáo dục Bassey Ubong còn cắt nghĩa “đạo đức” trong triết lý giáo dục người Nhật ngày nay chính là tính kỷ luật trong đời sống, sinh hoạt và làm việc. Bassey Ubong mô tả “Đạo đức còn có nghĩa là ý thức tuân thủ kỷ luật cao độ được phản ánh thông qua quan niệm xem giáo dục là một con đường dẫn đến cuộc sống tốt đẹp hơn. Từ đó thanh niên tích cực học tập, tuân theo các chuẩn mực về tôn trọng mọi người xung quanh và tham gia đóng góp nhằm giảm thiểu tỉ lệ thất nghiệp, ai nấy đều tốt nghiệp và có việc làm”.

Người Nhật luôn tin tưởng rằng nếu giáo dục tính kỷ luật hiệu quả cho một thế hệ trẻ em hôm nay thì trong tương lai gần Nhật Bản sẽ nhận được một thế hệ nhân tài trưởng thành “kỷ luật thép”, có khả năng đóng góp to lớn cho tổ quốc. Các nguyên tắc kỷ luật: Quản lý thời gian; tuân thủ quy trình làm việc, nguyên tắc hợp tác và phối hợp, tự phê bình bản thân, dám chịu trách nhiệm, không đổ lỗi hoàn cảnh, văn hóa từ chức… được người Nhật hiểu và vận dụng thuần thục. Lý thuyết ngành kinh tế học đã chứng minh được rằng người Nhật đã đúng khi tích lũy tính kỷ luật cho từng thế hệ trẻ em. Qua nhiều thập niên, các thế hệ người trưởng thành cộng hưởng các giá trị kỷ luật, tạo thành một dân tộc làm việc khoa học, bài bản, hiệu quả tối đa.

Giáo dục tư duy “tự lập” để học tập suốt đời

Trên nền tảng triết lý giáo dục đạo đức, trẻ em Nhật còn được định hướng “đạo đức = tự lực cánh sinh”. Mỗi bản thân cố gắng học tập, làm việc tự chủ, không ỷ lại để có thể hòa nhập môi trường hội nhập đầy biến động các giá trị văn hóa và tri thức. Việc tự lập còn giúp học sinh có cuộc đời phong phú, có thể học tập ở mọi nơi, mọi lúc trong suốt cuộc đời mình và có thể vận dụng thích hợp những thành quả đó.

Để thực hiện triết lý này, nội dung và phương pháp giáo dục môn nghiên cứu xã hội được nhấn mạnh “học sinh làm trung tâm” và nhấn mạnh giá trị trải nghiệm từ các bài học hơn là nhồi nhét kiến thức. Nhật thay đổi hệ thống sách quốc định thành kiểm định - nhiều loại sách với các chuẩn đầu ra khác nhau để tăng cường khả năng phản biện cho học sinh, kích thích việc tìm tòi, phát huy sức sáng tạo.

Chưa dừng tại đó, trong các lớp học, học sinh phổ thông sớm được giáo viên dạy rằng “không có chân lý đúng vĩnh viễn”. Thế nên các bài học thầy cô đưa ra đều được “trích nguồn”, cổ vũ các em tìm thêm nguồn thông tin, góc nhìn, phát hiện vấn đề mới. Đó là một trong những lý do cốt yếu giúp người Nhật nằm trong tốp đầu các quốc gia có lượng bằng sáng chế “khủng” nhất thế giới với vô số thương hiệu tồn tại xuyên thế kỷ.

Thầy cô thường xuyên trao đổi, tư vấn cho bậc cha mẹ chủ động dạy cho con họ tính tự lập, ngay trong các hoạt động sinh hoạt hằng ngày.

Học gì từ triết lý giáo dục của người Nhật?

Thực tế mỗi quốc gia, trong đó có Nhật Bản, xây dựng và phát triển triết lý giáo dục dựa trên điều kiện nguồn lực và hoàn cảnh cụ thể của quốc gia. Điều quan trọng mà chúng ta có thể học từ triết lý của người Nhật chính là “học sinh làm trung tâm” của các hoạt động giàu tính trải nghiệm, chia sẻ, trách nhiệm. Việc giữ học sinh ngồi ù lì trong lớp sẽ tạo nên nền giáo dục nghèo nàn.                      

Giáo dục Mỹ: Giáo dục sống nhờ triết lý tự do


Triết lý giáo dục “tự chủ - tự do” tạo ra sự đa dạng về nhân tài, từ đó sinh ra sự phồn thịnh về thành quả cho nền kinh tế - xã hội Mỹ.

Tổng thống thứ hai của Mỹ John Adams từng nói: “Trẻ em nên được giáo dục dựa theo nguyên tắc tự do”. Suốt hơn 200 năm phát triển, nền giáo dục Mỹ vẫn trung thành với triết lý đó. Những công dân Mỹ tương lai được định hình bởi giá trị cốt lõi là tự do đi kèm với tự chủ. Cũng chính vì thế mà giá trị của “giấc mơ Mỹ” đã và đang len lỏi đến tất cả “ngóc ngách” của thế giới.

“Tự do” gắn liền “tôn trọng” và “trách nhiệm”

Nền giáo dục Mỹ hướng đến việc đào tạo ra những con người tự do, có thể dễ dàng thích nghi với cuộc sống đang biến động từng ngày. Người Mỹ hiểu rằng việc “bó buộc” trẻ em trong những quyển sách “quốc định” chỉ khiến sức tưởng tượng và sự sáng tạo của trẻ bị giới hạn. Điều đó đồng nghĩa với việc hạn chế khả năng sống của trẻ trong một thế giới hội nhập, đa dạng. Đó là lý do tại sao chương trình học tại các trường ở Mỹ rất giàu tính trải nghiệm, kích thích sự phát hiện, khuyến khích trẻ đưa ra tất cả suy nghĩ “xung quanh một câu hỏi”.

Tuy nhiên, triết lý “tự do” không có nghĩa là thiếu sự tôn trọng hay thiếu bình đẳng. Cái tự do mà người Mỹ muốn có là tự do về tư tưởng - quyền được giữ quan điểm của bản thân. Nhưng phải tôn trọng ý kiến (hay sự tự do tư tưởng) của người khác. Chẳng hạn, nếu một sinh viên ngành sinh học không tin theo thuyết tiến hóa, anh ta được quyền giữ nguyên lập trường. Nhưng sinh viên này vẫn phải tìm hiểu học thuyết đó khi bước vào lớp như các bạn khác.

Các thầy cô thường nhắc nhở trẻ con rằng: “Bất kỳ ai trong các em cũng có quyền loại bỏ, thậm chí là tẩy chay một nhãn hiệu mà họ không thấy thích. Nhưng không được quyền ép người khác đứng về phe mình, vì như thế là thiếu tôn trọng quyền của tự do của người khác - điều mà người Mỹ tối kỵ”. Điều này còn được minh chứng khi nhìn vào sự bình đẳng giữa thầy-trò ở Mỹ. Giáo viên chấm điểm học trò, còn học trò lại có quyền nhận xét về chất lượng giáo viên. Cả hai bên đều không thể cư xử võ đoán với nhau. Do đó học trò được tự do thắc mắc, ý kiến hoặc thậm chí nghi ngờ giáo viên. Trong cuộc tranh luận, việc thẳng thắn nhận “tôi sai” hoặc “tôi không biết” là hết sức bình thường. Đó là điều kiện tiên quyết để có thể phát hiện ra những quan điểm mới mẻ hay những thiên tài mới. Thế nên người Mỹ quan niệm “không có câu hỏi ngu ngốc, chỉ có câu trả lời ngu ngốc mà thôi”.

“Tự do” càng không có nghĩa là cứ việc gì mình không thích thì né tránh mà trái lại phải sống một cách có trách nhiệm. Trước hết là sống trách nhiệm với bản thân. Ví dụ, người Mỹ có thể theo học hầu như bất kỳ trường nào trong vô số đại học, tuy nhiên lựa chọn đó không được tùy tiện hay nhất thời mà phải được cân nhắc kỹ càng về lợi ích của bản thân: sở thích, nguyện vọng, ước mơ.

Bên cạnh đó là sự trách nhiệm với cộng đồng. Thầy cô giáo dạy các học sinh của mình rằng công dân Mỹ dù có đồng tình với những chủ trương, chính sách của chính phủ hay không thì cũng phải đi bỏ phiếu để thể hiện, đóng góp tiếng nói của mình. Những công dân của “chú Sam” luôn tin tưởng, kỳ vọng và nỗ lực thực hiện trách nhiệm đào tạo tất cả trẻ em Mỹ bằng cách dạy cho chúng hiểu rằng mỗi công dân đều có khả năng, trách nhiệm đóng góp ý tưởng đột phá cho đất nước.

Với quan niệm đó, nền giáo dục Mỹ được thiết kế sao cho cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ cá nhân. Một mặt học sinh có nhiều lựa chọn để đi theo con đường học tập riêng. Ở trong lớp, các em được khuyến khích nói lên lập trường của mình. Mặt khác, mỗi người học đều phải nghiêm túc chịu trách nhiệm với những gì mình đã chọn.

Nhà trường tự chủ - học trò nhiều lựa chọn

Chuyên gia giáo dục Antonella Corsi-Bunker thuộc Trường ĐH Minnesota (Mỹ) chỉ ra rằng từ xưa, những nhà lập quốc Hoa Kỳ đã có ý thức dùng nhiều phương pháp khác nhau để bảo đảm tự do trong giáo dục. Yếu tố quan trọng hàng đầu là sự tự do, tự chủ của các trường học. Hiến pháp Mỹ tách bạch nhà nước, nhà thờ với nhà trường. Như vậy không một tư tưởng nào được quyền gạt đi ý kiến trái chiều theo kiểu “bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật”.

Thế nên tính tự chủ của các trường đại học ở Mỹ rất cao. Điều này dễ thấy khi Mỹ không có hệ thống trường quốc gia. Hiến pháp giao trách nhiệm giáo dục cho chính quyền từng bang và địa phương thay vì cho chính phủ liên bang. Mỗi bang có sở giáo dục riêng quản lý các trường trong địa phận. Tuy nhiên, đây chưa phải là cơ quan “chỉ định” quyền lực, quyết định hoạt động của các trường. Chính quyền bang chỉ có quyền ban bố những tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả của trường; khảo sát số lượng và trình độ giảng viên, hệ thống hạ tầng, quy mô trường học… Từ đó quy định trường có thể đào tạo tối đa bao nhiêu học viên để đảm bảo chất lượng tối thiểu, quyền lợi tối thiểu cho người học.



Trong khi đó, các đơn vị hành chính thấp hơn, bao gồm các cộng đồng địa phương - thường là thành phố hoặc thị trấn - mới là cơ quan có quyền bổ nhiệm các ban giám hiệu cho trường công lập. Ban giám hiệu này sẽ quyết định chương trình tuyển chọn đầu vào, phương pháp đào tạo giảng dạy, tổ chức hoạt động rèn luyện… sao cho phù hợp với nhu cầu của địa phương. Điều này đồng nghĩa trường công có sự độc lập đáng kể đối với các cấp quản lý trên cao. Các trường dân lập tư thục còn có quyền tự chủ cao hơn trường công lập.

Cấu trúc trên dẫn đến việc các loại hình đào tạo mở Mỹ rất đa dạng. Đơn cử như giáo dục sau bậc phổ thông, nước Mỹ có hơn 3.500 trường bao gồm các đại học, cao đẳng, cao đẳng cộng đồng, viện nghiên cứu, còn có cả loại hình đào tạo từ xa. Mỗi trường có thế mạnh và yêu cầu rất khác nhau, tạo ra sự đa dạng về mặt chọn lựa: Ai muốn theo học đều sẽ có cơ hội phù hợp với mình.

Người Mỹ dạy trẻ cách “tự đưa ra chọn lựa” ra sao?

Người Mỹ rất chú trọng việc rèn luyện tư duy độc lập cho trẻ nhỏ. Khi mới đi học, trẻ thường nhìn nhận thế giới một cách phiến diện, chỉ có đen-trắng, đúng-sai.

Nhiệm vụ đầu tiên của người thầy là giúp học sinh mở rộng tầm mắt để thấy được một thế giới đa chiều - một câu hỏi có nhiều đáp án, một hiện tượng có nhiều cách lý giải hay một bức ảnh sẽ có nhiều cái tên ở những góc cạnh khác nhau.

Đến lúc này trẻ có xu hướng cho rằng “mọi thứ đều đúng” hoặc ngược lại là “không có gì đúng cả”. Điều giáo viên cần làm là dạy trẻ cách quan sát, nhận xét, đánh giá sự việc theo từng góc nhìn cụ thể, từng mối quan hệ cụ thể (giả thuyết - kết luận; nguyên nhân - hệ quả…) để trẻ hình thành sự nhạy cảm trong việc nhìn nhận sự việc, hiện tượng.

Sau đó, quan trọng và cốt lõi, người Mỹ giúp con em họ hiểu rằng “góc nhìn nào cũng phải có lý lẽ riêng” - thể hiện tư duy độc lập, đầy tính phản biện. “Chỉ tay vào một con chó, học sinh có quyền kết luận đó là con mèo nếu em ấy chứng minh được điều ấy dưới góc nhìn cụ thể và bằng lý lẽ thuyết phục”. đây là giai thoại vui mà nhiều người thường dùng để mô tả cách dạy trẻ tại Mỹ.

Kết thúc các giai đoạn trên, học sinh Mỹ hiểu rằng không quan trọng ở việc “chọn cái gì” mà điều cốt yếu là “giải thích/chứng minh đó là lựa chọn tối ưu”. Đó là cách mà giáo dục Mỹ đào tạo ra các sản phẩm có thế giới quan cân bằng giữa chủ quan và khách quan, vừa biết tôn trọng ý kiến người khác vừa biết cách bảo vệ quan điểm của mình.

Đất nước của các trường học “nhất thế giới”

Theo đánh giá của tạp chí Forbes, Harvard, MIT và Stanford chiếm ba vị trí đầu bảng xếp hạng các trường đại học tốt nhất thế giới năm 2014 và trong nhiều năm qua. Bất chấp sự tuột hạng của các trường công do vấn đề tài chính, khủng hoảng kinh tế, Mỹ vẫn chiếm 46 chỗ trong nhóm 100 trường hàng đầu thế giới về đào tạo nguồn nhân lực. Ký giả Susan Adam nhận xét thứ hạng cao sẽ giúp một trường đại học hấp dẫn hơn. Số hồ sơ dự tuyển sẽ nhiều hơn, kéo theo chuẩn đầu vào cao lên sẽ góp phần giúp trường đó tiếp tục thành công của mình.

Bên cạnh đó, sức hút du học sinh nước ngoài của nền giáo dục Mỹ rất khủng khiếp. Tháng 11-2013, con số sinh viên quốc tế theo học tại Mỹ lên đến gần 820.000, đạt mức cao kỷ lục. Làn sóng du học sinh mang theo một nguồn lợi nhuận khổng lồ ước tính 24 tỉ USD.

48 kỹ năng sống cần dạy cho con


Không biết cách đi xe đạp, bơi lội và buộc dây giày, trẻ em ngày nay dường như làm chủ các trò game giỏi hơn kỹ năng sống cần thiết.

Tại sao cần học cách thắt dây giày khi bạn có thể chơi video game? Trẻ em ngày nay thành thạo sử dụng chuột máy tính, mở một trang web và tìm kiếm các ứng dụng trò chơi trên điện thoại của bố mẹ. Nhưng nhiều trẻ không biết làm thế nào để buộc dây giày hay nấu một món đơn giản.

Một nghiên cứu gần đây với 2.200 bà mẹ trên thế giới cho thấy:

- 44% trẻ 2-3 tuổi biết chơi game máy tính trong khi 43% có thể đi xe đạp.
- 22% trẻ 4-5 tuổi có thể sử dụng một ứng dụng trên điện thoại thông minh, trong khi chỉ 14% trẻ biết buộc dây giày.
- 25% trẻ nhỏ biết mở một trang web trong khi chỉ 20% biết bơi.

Những con số này không có gì đáng ngạc nhiên nhưng gợi lên nỗi buồn nhỏ. 

Dưới đây là những kỹ năng trong cuộc sống bố mẹ có trách nhiệm dạy con, bằng việc làm của chính mình hằng ngày. Đó không phải là những kỹ năng học thuật như đọc, viết - thứ mà trẻ nào cũng học tại trường hay những kỹ năng liên quan đến công nghệ, bởi ngày nay dường như nhiều trẻ còn "dạy" bố mẹ về cách sử dụng điều khiển TV, cách tải các ứng dụng trên điện thoại...

Hãy dạy làm sao để khi trưởng thành con bạn hoàn toàn làm chủ những kỹ năng tối thiểu dưới đây:

1. Buộc dây giày.

2. Bơi.

3. Đánh răng và dùng chỉ nha khoa hằng ngày.

4. Đi xe đạp.

5. Lộn nhào.

6. Thả diều.

7. Dọn giường.

8. Ăn uống lịch sự tại bàn ăn.

9. Nói "xin phép" và "cảm ơn".

10. Nấu một bữa ăn.

11. Bôi kem chống nắng.

12. Khâu cúc áo/quần.

13. Biết xì mũi vào khăn giấy.

14. Vệ sinh cơ thể từ trước ra sau.

15. Biết đóng đinh.

16. Chơi thể thao.

17. Viết thư cảm ơn.

18. Là quần áo.

19. Lựa chọn thức ăn tốt cho sức khỏe.

20. Tự kiểm soát bản thân.

21. Giải quyết tình huống khó.

22. Giặt đồ.

23. Trồng cây gì đó, chẳng hạn trồng hoa.

24. Tạo sổ ghi chép thu chi và cân bằng các khoản này.

25. Tự tin.

26. Luộc gà.

27. Nói trước nhóm người.

28. Dọn sạch đống bừa bãi.

29. Học cách tự làm bài.

30. Tắt đèn trước khi ra khỏi nhà.

31. Nặn mụn đúng cách.

32. Quan hệ tình dục an toàn.

33. Tiết kiệm tiền và chi tiêu khôn ngoan

34. Nhìn vào mắt người đối diện khi nói chuyện.

35. Gói một món quà.

36. Loại bỏ vết bẩn do dính chocolate.

37. Thắt cà vạt.

38. Đọc báo.

39. Quan tâm đến những người kém may mắn.

41. Xử lý tình huống bất ngờ khi lái xe.

42. Thay lốp xe.

43. Đỗ xe đúng quy định.

44. Sử dụng bình cứu hỏa.

45. Nướng một chiếc bánh.

46. Dựng một chiếc lều.

47. Chọn lựa trái cây chín.

48. Nhìn vào mặt tích cực của vấn đề.                      

Cảm hoá học sinh cá biệt



Năm học 1998-1999, tôi chủ nhiệm lớp chọn của trường. Thú thật, làm chủ nhiệm toàn học sinh (HS) giỏi mọi việc đều trơn tru, giờ chủ nhiệm không có cảnh bắt HS làm kiểm điểm hay quở phạt ai nên cả thầy và trò đều thấy nhẹ nhàng.

Nhưng một tháng sau, Ban Giám hiệu dắt hai HS dạng cá biệt của một lớp vừa giải tán xuống lớp buộc tôi phải nhận để “cùng nhau chia sẻ với các lớp khác”. Qua tìm hiểu, tôi được biết em Bình nhà ở xã xa thị trấn, gia đình trước đây gửi vào học để cách ly với đám bạn xấu chơi chung trong lớp. Nào ngờ, đến trường mới, em lại ngỗ nghịch, nhiều lần giáo viên chủ nhiệm mời gia đình nhưng chứng nào tật nấy, riết rồi gia đình cũng không quan tâm đến. Còn Cường, ngay từ nhỏ gia đình cho em đi bán bánh mì dạo do gia đình lúc đó khó khăn. Hiện hoàn cảnh gia đình đã ổn định nhưng do quen “nghề”, ra đời sớm nên em sớm nhiễm thói hư tật xấu bên ngoài, thích bán bánh mì dạo hơn học.

Kể từ khi xuất hiện hai em, thứ hạng thi đua hàng tuần của lớp cứ tụt dần. Nhiều HS trong lớp nóng ruột đề nghị tôi nên tìm cách “tống khứ” hai em ra khỏi lớp hoặc mời gia đình trả về nhà. Tôi hiểu, với những em này, đòn roi chẳng có tác dụng gì nên tìm cách thuyết phục bằng nhiều cách. Thật tình cờ, cha mẹ của một em trong lớp nhà có 10 công vườn trồng cam, bưởi có nhã ý mời lớp tổ chức một chuyến dã ngoại đến đây. Các em HS giỏi rất ý tứ trong việc vào vườn nên dè dặt trong việc hái trái cây. Hai em cá biệt thấy vậy nên cũng không dám tự tung tự tác. Khi thầy trò cùng nhau ngồi ăn trái cây, tôi kể những câu chuyện giáo dục nhẹ nhàng, vui vui làm cho các em thích thú. Còn Bình và Cường cứ ngượng ra mặt bắt đầu tỏ thái độ hòa đồng với lớp. Một tuần sau, Cường báo tin mẹ em Bình vừa qua đời. Nghe tin ấy, tôi bảo Cường dẫn tôi và một số HS đến nhà dự lễ tang. Cường ấp úng: - Thưa thầy, nhà bạn Bình xa lắm. Tôi nói: - Xa bao nhiêu thầy cũng đi. Thế rồi cả nhóm đạp xe đi gần 10 cây số, trong đó đường ruộng đã hơn một nửa. Đó là chưa kể cả thầy và trò vất vả rinh xe qua những cây cầu khỉ. Khi thấy tôi, Bình tái mặt sợ tôi kể những chuyện không hay về em cho gia đình biết. Nhưng không, sau những thủ tục với người quá cố, tôi chỉ nói những chuyện tốt của Bình và động viên gia đình nên tạo điều kiện để em học hành, thi đỗ tốt nghiệp cuối năm. Bình đứng gần đó lặng người, quay mặt chỗ khác giấu đi những giọt nước mắt.

Không hiểu sao kể từ hôm ấy, hai em tỏ ra ngoan ngoãn, ít vi phạm hơn. Năm đó, lớp tôi đỗ tốt nghiệp THPT 100%. Ngày chia tay lớp, Bình và Cường nán lại cuối cùng gặp riêng tôi rơm rớm nước mắt: - Chúng em cám ơn thầy rất nhiều. Nhờ thầy mà chúng em thi đậu tốt nghiệp. Tôi tỏ vẻ ngạc nhiên: - Thầy có giúp vì các em đâu? Chính các em tự cố gắng thôi mà. - Thưa thầy, chính những câu chuyện thầy kể, chính sự quan tâm hết mực của thầy làm cho những thằng chai lì như chúng em cũng phải mềm ra.

Nói xong, cả hai òa lên khóc như những đứa trẻ làm tôi cũng mủi lòng. Sau này tôi được biết dù các em không vào được ĐH nhưng giờ có việc làm ổn định, thu nhập nuôi đủ gia đình. Từ câu chuyện của hai em, tôi mới ngộ ra rằng, tấm lòng trong sáng, sự gần gũi thương yêu và thái độ chuẩn mực của người thầy cũng có thể cảm hóa được những HS bị xem là cá biệt.                      

Người thầy trong nền giáo dục hiện đại


Trong hệ lụy quy chiếu hiện nay, nền giáo dục hiện đại với phương pháp sư phạm tiên tiến đề cao sự học, cho nên phải lấy người học chứ không phải người thầy làm nhân vật trung tâm trong nhà trường. Nhưng, nếu từ chỗ phê phán sự lạc hậu trong nền giáo dục cũ gán cho người thầy quyền uy tuyệt đối, biến giáo dục thành quá trình truyền đạt và tiếp thu hoàn toàn thụ động. Mà cực đoan đi đến phủ nhận vai trò then chốt của người thầy đối với chất lượng giáo dục, sẽ là một sai lầm nghiêm trọng và tai hại.

Vai trò của người thầy trong giáo dục hiện đại

Thật ra các yêu cầu về phương pháp giáo dục, lấy người học làm trung tâm đã được nêu ra từ nhiều thế kỷ trước, sở dĩ gần đây được nhấn mạnh, đặc biệt là do bước vào kinh tế tri thức thì việc rèn luyện tính năng động sáng tạo cho người học được nhìn nhận là cấp thiết hơn bao giờ hết. Nhưng đó chỉ là nói về các phương pháp người thầy cần cập nhật, áp dụng để nâng cao hiệu quả giảng dạy, chứ không phải vì những phương pháp ấy mà giảm nhẹ vai trò của người thầy. Không phải chỉ bằng lý luận chung mà bằng các công trình nghiên cứu khoa học cụ thể, đã khẳng định người thầy là yếu tố quyết định chất lượng giáo dục. Chính phẩm chất và năng lực của đội ngũ người thầy, tạo nên sự khác biệt về kết quả giáo dục giữa trường này với trường khác… Trong một tài liệu, giới thiệu khá đầy đủ về phương pháp dạy học lấy HS làm trung tâm, tác giả R. Batliner đã khẳng định: “GV là yếu tố chủ chốt quyết định việc dạy và học có chất lượng”. Ngay cả khi một quốc gia tiến hành cải cách giáo dục thì chính đội ngũ người thầy sẽ là người đưa các yêu cầu, nội dung, phương pháp… của chương trình giáo dục mới vào đời sống học đường. Gánh nặng cải cách giáo dục luôn đặt lên vai đội ngũ người thầy là trước hết.

Điều này cũng dễ hiểu, vì loại trừ những trường hợp xuất chúng đặc biệt, còn đối với số đông người học, từ HS tiểu học cho đến SV ĐH, nhờ có thầy mà phát huy và phát triển nội lực cá nhân. Nói đến chất lượng, hiệu quả giáo dục là nói tới phần nội lực gia tăng được của người học nhờ giáo dục mà có, chứ không phải những nội lực sẵn có. Tuy rằng có nhiều cách học không cần có thầy trực tiếp, nhất là trong thời đại thông tin ngày nay nhưng cách học hiệu quả nhất, tiết kiệm được thời gian, đỡ tốn công mày mò, lòng vòng tìm hướng đi… là học với thầy, nhất là với thầy giỏi. Tất nhiên, thầy không phải là nhân tố duy nhất nhưng xét cho kỹ, có thể nói không có nhân tố đơn lẻ nào quan trọng hơn.

Gần đây, có ý kiến cho rằng không phải người thầy, mà chương trình đào tạo mới là yếu tố quyết định nhất đối với chất lượng giáo dục. Nếu bài toán về chất lượng giáo dục đơn giản như thế thì chỉ cần cải tiến chương trình giáo dục, thậm chí bê nguyên xi chương trình của một quốc gia tiên tiến hay chương trình đào tạo của một số trường nổi tiếng trên thế giới là giải quyết được vấn đề chất lượng giáo dục của ta. Đáng tiếc, thực tế không phải như vậy, không có đội ngũ thầy giỏi thì làm sao xây dựng được, thực hiện được và áp dụng được chương trình đào tạo tốt.

Xây dựng chuẩn người thầy trong đổi mới giáo dục

Với vai trò là yếu tố chủ chốt, quyết định việc dạy và học có chất lượng thì đổi mới hay cải cách giáo dục phải bắt đầu từ cải cách đội ngũ người thầy. Đây là điều kiện tiên quyết để tổ chức thực hiện các mục tiêu mới và chuẩn mới của chương trình giáo dục khi đã đổi mới.

Cải cách đội ngũ người thầy thực chất là nhằm tới hai nhóm vấn đề căn bản: Những yêu cầu mới gì trong nền giáo dục hiện đại người thầy phải có?; Những điều kiện cần và đủ nào để người thầy có thể thực hiện và đáp ứng được các yêu cầu mới đó? Nói một cách ngắn gọn là người thầy phải làm gì và phải làm như thế nào?

Người thầy là nhà chuyên môn trong nghề dạy học; là người mô phạm về phẩm cách để HSSV noi theo; là người lãnh đạo, chịu trách nhiệm về những quyết định của mình trong lớp học. Trong nền giáo dục hiện đại, theo xu hướng chung về tính minh bạch trong theo dõi, giám sát và đánh giá, cùng với việc đưa vào các chuẩn về kiến thức và kỹ năng trong chương trình giáo dục, người ta cũng đưa vào các chuẩn về người thầy.

Người thầy, dù là người truyền thụ kiến thức một chiều theo phương pháp cũ hay là người dẫn dắt người học, trong việc chiếm lĩnh tri thức theo phương pháp mới, bao giờ cũng là tấm gương đạo đức để HSSV noi theo. Vì vậy, chuẩn mực tiên quyết đối với người thầy là sự mô phạm về đạo đức. Tuy nhiên, các chuẩn mực về đạo đức người thầy ở từng cấp học và trình độ đào tạo… lại có những mức độ, yêu cầu khác nhau, cần phải xác định được các chuẩn mực đạo đức cơ bản: Sự tôn trọng người khác; lòng nhân hậu; sự nghiêm minh và công bằng; tính lương thiện và ngay thẳng… làm căn cứ để người thầy soi mình, xem xét, điều chỉnh và hoàn thiện đạo đức nghề nghiệp trước con mắt của người học, đồng nghiệp, phụ huynh và làm cơ sở để cụ thể hóa thành các hành vi đạo đức đối với từng cấp học và trình độ đào tạo mà người thầy phải tuân theo.

Sau chuẩn mực tiên quyết về đạo đức, người thầy cần phải đạt đến những chuẩn mực về kiến thức, kỹ năng và thái độ. Nội dung cốt lõi của các chuẩn này là sự toàn tâm, toàn ý với người học và nghề dạy học; nắm vững chuyên môn, nghiệp vụ; trách nhiệm quản lý và giám sát việc học của HSSV; tinh thần học tập liên tục để nâng cao hiệu quả và kết quả dạy học; tác phong đi đầu trong các quan hệ phối hợp với đồng nghiệp, phụ huynh và cộng đồng.

Nói một cách ngắn gọn về chuẩn mực người thầy là xây dựng được một đội ngũ các nhà giáo giỏi, yêu nghề và mô phạm về phẩm cách.

Để xây dựng được một đội ngũ những người thầy như trên thì phải tổ chức có hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ người thầy. Đây là trách nhiệm của Nhà nước mà cụ thể là các cơ quan quản lý giáo dục. Các cơ quan này phải có chính sách và giải pháp để thu hút được người giỏi vào nghề dạy học và giữ được họ trong nghề. Muốn vậy, trước hết là vấn đề tạo động lực cho người thầy, nâng cao vị thế xã hội của người thầy trong nhận thức xã hội và chính sách quốc gia; là chế độ chính sách, đặc biệt là chính sách về lương, thưởng, thăng tiến, phát triển chuyên môn, đánh giá đãi ngộ phù hợp; cải thiện điều kiện làm việc, tài liệu và thiết bị dạy học.

Nền giáo dục quốc dân của ta nói chung và giáo dục đại học nói riêng, đang thể hiện nhiều bất cập, tụt hậu xa so với các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới. Có nhiều vấn đề đặt ra mà trong đó, một trong những nguyên nhân cốt lõi là chính sách chăm lo đời sống cho người thầy quá bất cập. Một mặt vẫn nói, “tôn sư trọng đạo”, một mặt chi cho thầy giáo đồng lương không đảm bảo một mức sống tối thiểu bình thường, chưa nói là tử tế. Để rồi buộc họ phải xoay xở kiếm thêm thu nhập bằng mọi cách (dạy thêm, làm thêm ngoài giờ, làm nghề tay trái), phải bươn chải để sống mà làm nghề trong một môi trường đòi hỏi phải toàn tâm, toàn ý mới làm tốt được nhiệm vụ. Có thể nói không quá đáng, hầu hết mọi căn bệnh tiêu cực, tàn phá giáo dục trong mấy thập kỷ qua, đều có nguồn gốc ở chính sách lương, thu nhập của người thầy.                   

Hiểu tuổi “khó bảo”, “tuổi khủng hoảng”, “tuổi bất trị” ... để có cách giáo dục phù hợp


Tuổi thiếu niên, tuổi của học sinh trung học, là lứa tuổi của trẻ từ 10 đến 11, 11 đến 15 tuổi, ứng với giai đoạn bắt đầu chuyển từ tuổi trẻ em sang tuổi thanh niên. Theo ý kiến của các nhà giáo dục ở tất cả các quốc gia trên thế giới, đây là giai đoạn tuổi “khó bảo”, “tuổi khủng hoảng”, “tuổi bất trị”...

Những hành vi không mong đợi

PGS.TS Võ Thị Minh Chí (Viện Nghiên cứu sư phạm - Trường ĐH Sư phạm Hà Nội) – cho biết: Thời gian khoảng 10 năm trở lại đây, trên các phương tiện thông tin đại chúng, xã hội được biết đến rất nhiều hành vi “không mong đợi” (bạo lực, hành vi vi phạm pháp luật…) trong giới học sinh, đặc biệt là học sinh ở tuổi thiếu niên.

Chẳng hạn, trong số trẻ có hành vi phạm pháp: gây rối loạn trật tự công cộng, cố ý gây thương tích, lừa đảo, cướp tài sản, huỷ hoại tài sản, phá huỷ các công trình quan trọng an ninh quốc gia, trộm cắp, trẻ học từ lớp 6 đến lớp 9 chiếm 74.33%;

Số trẻ phạm pháp (do nghiện, chưa nghiện internet) trong trại giáo dưỡng số 2 - V26 ở tuổi thiếu niên là 94%, trong đó chưa kể đến các em ở lứa tuổi này cũng vi phạm pháp luật nhưng được cha mẹ xin về về để giáo dục tại gia đình hoặc do mới vi phạm lần đầu nên chịu sự quản lý của địa phương.

Con số học sinh học trong các trường giáo dưỡng ngày càng tăng theo các năm. Những con số và hành vi “phi đạo đức” của trẻ thiếu niên là cảnh báo cho xã hội, cho các nhà giáo dục, cho những người làm cha, làm mẹ, cho tất cả những ai quan tâm đến giáo dục thế hệ trẻ.

PGS.TS Võ Thị Minh Chí cho biết: Ở tuổi thiếu niên thường xuất hiện các rối loạn tâm lý đặc trưng. Nếu như các rối loạn phát triển tâm lý đã xuất hiện từ trước, thì đến tuổi thiếu niên, chúng cũng sẽ có những biến đổi nhất định.

Ở các thiếu niên có tổn thương thực thể hệ thần kinh trung ương, các rối loạn trí tuệ có thể được phục hồi tương đối, nhưng hiện tượng mệt mỏi và rối loạn hành vi lại tăng cường.

Nếu trẻ bị động kinh từ nhỏ và không được điều trị kịp thời, thì vào tuổi thiếu niên, các khiếm khuyết trí tuệ, sự thay đổi nhân cách, biểu hiện sự dữ tợn càng tăng hơn.

Sự phát triển tính cách mạnh mẽ thái quá của trẻ trong các tình huống không thuận lợi đều có thể phát triển theo hướng xấu và chuyển thành bệnh thái nhân cách.

“Theo chúng tôi, đấy là những khó khăn “sinh lý”, bình thường trong phát triển của trẻ, nhưng nếu không biết hay không tạo điều kiện kiểm soát được sự tiến triển của chúng thì hậu quả là các hành vi hư hỏng, các phản ứng không phù hợp về đạo đức, lối sống của trẻ có điều kiện thuận lợi để phát sinh và phát triển” - PGS.TS Võ Thị Minh Chí cho hay.

Giáo dục trẻ thiếu niên: Không chỉ nên “bàn giao” các kỹ năng sống

Cho rằng, những đặc điểm tâm - sinh lý đặc trưng của tuổi thiếu niên như trên liên quan nhiều hơn cả đến bậc đầu của tuổi thiếu niên, theo PGS.TS Võ Thị Minh Chí, ở bậc sau của giai đoạn lứa tuổi này, do sự phát triển cao hơn của ý thức và tự ý thức hành vi của các em ít nhiều cũng được “lý trí ” điều khiển, mặc dù kinh nghiệm sống của các em còn ít.

Như vậy, có thể thấy rằng, giáo dục trẻ thời điểm bậc đầu tuổi thiếu niên tuy không phải là khó nhưng cũng không đơn giản vì có nhiều yếu tố trong phát triển “hướng” trẻ dễ rơi các trạng thái bất lợi;

Mặt khác, do ở tuổi thiếu niên, cơ chế bù trừ chức năng hình thành chưa đầy đủ, nên dễ dẫn đến các hành vi lệch lạc (trong đó, kể cả hành vi vi phạm pháp luật).

Nhưng tất cả những “biến đổi” nêu trên mang tính chất lứa tuổi nên bất cứ trẻ - thiếu niên nào cũng phải trải qua (chỉ với mức độ ít hay nhiều mà thôi). Và vì vậy, chúng được xếp vào các đặc điểm “sinh lý”, bình thường, chứ không phải bệnh lý.

Quá trình biến đổi tâm - sinh lý của trẻ ở giai đoạn tuổi thiếu niên có để lại “dấu vết” hay không, phụ thuộc rất chặt chẽ vào điều kiện giáo dục, hoàn cảnh gia đình, nhà trường, môi trường xã hội mà trẻ đang sống và sự tích cực hoạt động của chính bản thân đứa trẻ (vươn lên tự điều chỉnh và điều chỉnh các đặc điểm nhân cách chưa phù hợp của mình).

Trong điều kiện trẻ được quan tâm đầy đủ, hỗ trợ đúng thời điểm cần thiết, giáo dục tế nhị, thậm chí, lệch lạc hành vi, nếu được phát hiện sớm, điều chỉnh kịp thời thì đứa trẻ hoàn toàn có cơ hội vượt qua giai đoạn đầy khó khăn này để phát triển bình thường.

Trong nhiều năm gần đây, sự quan tâm giáo dục trẻ em nói chung, trẻ - thiếu niên nói riêng, được thể hiện qua các chương trình “giáo dục kỹ năng sống” cho chúng.

PGS.TS Võ Thị Minh Chí cho rằng, đây là sự quan tâm cần thiết, giúp cho trẻ biết tiếp cận và xử lý với các tình huống “thật” của thực tế, nhất là trong bối cảnh hội nhập như hiện nay.

Tuy nhiên, các kỹ năng ứng phó với các tình huống của cuộc sống dù được được sử dụng (làm chủ linh hoạt) đến đâu thì cũng chỉ là công cụ để thực hành. Do vậy, nếu chỉ trang bị cho trẻ các công cụ đó trong khi các em còn thiếu hiểu biết, thiếu kinh nghiệm sống thì việc sử dụng nó không thể không tránh khỏi sai sót, thậm chí dẫn đến “hậu quả” khó lường.

Kết quả dễ nhận thấy đầu tiên dễ quan sát thấy là trẻ tự “thoả mãn” với cách làm của mình, chưa hiểu hết được tác dụng lâu dài của cách giải quyết tình huống như vậy.

Chính vì thế, cùng với việc “bàn giao” các kỹ năng sống cho trẻ, các nhà làm và quan tâm đến công tác giáo dục không thể bỏ qua giáo dục giá trị sống cho các em.

Từ hiểu biết và có thái độ đúng, trân trọng với các giá trị của cuộc sống và của bản thân, lại được trang bị thêm cách xử lý linh hoạt trong các tình huống thực tế cụ thể, trẻ mới có “đủ bản lĩnh” đương đầu với cuộc sống theo nghĩa “cao thượng” của nó.

Khi các em ít nhiều hiểu được “chân” giá trị của cuộc sống, của truyền thống gia đình… và của chính bản thân, hành vi của trẻ sẽ được hướng đạo theo giá trị mang ý nghĩa “vì xã hội”.

Nói như vậy nghĩa là, việc học và giáo dục của môn đạo đức với nội dung giáo dục giá trị sống cho học sinh trở nên cấp thiết, quan trọng hơn bao giờ hết.

Không nên (nếu như không nói là không được) thay thế (dưới mọi hình thức) nội dung của môn giáo dục đạo đức thành giáo dục kỹ năng sống. Cách làm như thế này không phải là cách giáo dục “từ gốc”.

“Vấn đề cần phải suy nghĩ là làm thế nào để việc giáo dục giá trị sống không trở thành một mớ lý thuyết “giáo điều”, nhàm chán, gây cảm giác khó chịu cho trẻ” - PGS.TS Võ Thị Minh Chí đặt vấn đề.